Gốc > Văn học Việt Nam > VH VN từ TK X đến TK XIX (VHTĐ) > Thơ Trung Đại > Thơ Hồ Xuân Hương >

Sự thật về bài thơ "Khóc Tổng Cóc" - Kỳ 2

 

Phía trong ngôi nhà của ông Tổng Cóc.

Xưa nay, người ta đều hiểu rằng, bài thơ nổi tiếng "Khóc Tổng Cóc" của Hồ Xuân Hương là "lời điếu văn" (khi ông Tổng Cóc chết) lạnh lùng đầy sự nhạo báng dành cho cường hào ác bá, xấu xí như cóc, đã khiến cuộc đời bà phải "bảy nổi ba chìm". Người ta kể một câu chuyện y như nhau rằng, người mẹ quá nghèo túng nên đã gả con gái cho một tên trọc phú, người ngợm chẳng ra gì. Sự thật về bài thơ này hoàn toàn khác.

>>Sự thật về ông Tổng Cóc

Làng Gáp quê Tổng Cóc vốn là vùng chiêm trũng. Con gái đồng chiêm cần ở nết chịu thương chịu khó, chân lấm tay bùn. Dân gian Tứ Xã  kể chuyện rằng cách đây vài chục năm, đàn ông Tứ Xã tìm hiểu cô nào là phải thức từ chập tối đến sáng, ẩn nấp trước nhà cô ấy để... rình trộm. Nếu cô nào hay thức khuya, dậy sớm, hay lam hay làm thì mới lấy làm vợ. Tiêu chuẩn người đàn bà quý nhất ở cái "lưng ong đùi dế", chứ không phải dáng thanh yểu điệu như nàng dâu Hồ Xuân Hương.

Hồ Xuân Hương là con gái ông đồ xứ Nghệ, nhưng đã theo cha ra kinh kỳ dạy học từ nhỏ, chỉ biết đến đèn sách nên có thể nói nàng không khác gì một tiểu thư nơi đô hội. Do không biết làm việc đồng áng, nên dưới con mắt của những người nhà quê, Hồ Xuân Hương chỉ là cô gái hư hỏng, lười nhác, quen ăn trắng mặc trơn, hoang phí, chỉ giỏi thói thơ phú giễu đời.

Theo Hồ Quỳnh gia phả (gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An) thì bà Hồ Xuân Hương sinh năm 1772, mất năm 1822, ở làng Quỳnh Đôi. Thân sinh của bà là ông Hồ Phi Diễn, đậu tú tài năm 24 tuổi. Nhà nghèo, ông ra Bắc dạy học kiếm sống, sau lấy một cô gái họ Hà làm vợ lẽ. Hồ Xuân Hương chính là kết quả của cuộc hôn nhân này.

Dân làng Gáp vẫn truyền khẩu thơ bà để mua vui, nhưng họ không thán phục tài thơ của bà mà chỉ coi bà là hạng đàn bà lộng ngôn. Họ kể đủ chuyện xấu về bà, vì bà đã không những tranh vợ cướp chồng mà còn làm cho gia đình ông Tổng Cóc tan nát.

Ở tổng Gáp ngày xưa, cũng như Tứ Xã ngày nay, từ cụ già cho đến đứa trẻ cũng đều biết đến hai câu thơ có ý miệt thị Hồ Xuân Hương: "Đánh gốc, bốc trà, may Tú Điếc/ Cá Kình mắc lưới, phúc nho Trâm". Xưa kia, trẻ con trong làng thường đọc rộn ràng hai câu thơ này cứ như vè. Các cụ đồ nho, giáo viên ở quanh vùng khi giảng về thơ Hồ Xuân Hương đều đọc và giải thích cho học trò hai câu thơ có vẻ khó hiểu này.

Trong con mắt người dân làng Gáp, Tổng Cóc là người giàu có, hào phóng, lại tài giỏi hơn người, nên nữ sĩ Hồ Xuân Hương cứ mê như điếu đổ, mặc kệ việc ông đã có tới hai bà vợ. Anh chàng Tú Điếc cũng từng ngấp nghé thích nàng, nhưng bị bố mẹ ép lấy vợ quê để lập trang ấp. Chàng nho Trâm cũng mê mẩn Hồ Xuân Hương, nhưng nàng chỉ coi Trâm là bạn.

Tổng Kình mê Hồ Xuân Hương và nàng cũng dành hết tình cảm cho Tổng Kình, nên chấp nhận làm thân vợ lẽ. Vợ chồng đều có tính phóng túng nên sớm vong gia bại sản, mất cả nhà cửa, đồ tam bảo. Chính vì lẽ đó, người làng Gáp và những người xung quanh chỉ kể chuyện xấu về Hồ Xuân Hương. Nếu Tổng Cóc được coi là thần tượng, văn võ toàn tài, đầy nghĩa hiệp, thì Hồ Xuân Hương bị coi là tà ma quỷ ám hại đời Tổng Cóc. Họ ví Tổng Kình như con cá kình mắc phải lưới tình của Hồ Xuân Hương mà thân bại danh liệt, nên mới làm ra hai câu vè trên.

Ông Nguyễn Bình Ngạn và ông Nguyễn Bình Phúc dẫn tôi ra khu vực chùa Vắp Cổ, hiện nằm ngay cổng vào khu 19, cách đê sông Hồng chừng 2,5km. Xưa kia, ngôi chùa này nằm ở đầu làng, hiện vẫn còn 2 cây đa cổ thụ khổng lồ làm minh chứng. Trước đây, cổng làng có 3 cây đa, nhưng đã chết mất một cây, hiện một cây cũng đang ngắc ngoải. Theo các cụ già ngót trăm tuổi trong làng, khi bé xíu, họ đã thấy những cây đa to như thế này rồi. Tuổi của hai cây đa này phải vài trăm năm, thậm chí cả ngàn năm.

Hơn 200 năm trước, đất đai, ao hồ nhà ông Tổng Cóc trải từ đầu làng đến giữa làng. Hiện dấu tích cái hồ của gia đình ông Tổng Cóc vẫn còn đó, nhưng đã bị chia năm xẻ bảy thành những cái ao nhỏ, chia cho các hộ dân.

Chuyện rằng, để chiều lòng bà Hồ Xuân Hương, ông Tổng Cóc đã cho đắp một gò đất giữa hồ và làm một "nhà thủy tạ" trên gò đất đó, lại có cầu kiều bắc ra, tốn kém không biết bao nhiêu tiền của. Mục đích xây "nhà thủy tạ" là để người vợ lẽ Hồ Xuân Hương tránh phải giáp mặt nhiều với bà cả, bà hai. Tại đây, bà được thỏa sức nghỉ ngơi, lấy cảm hứng làm thơ, dạy học.

Hồ nước này từng được Tổng Cóc dựng nhà Thủy Tạ cho Hồ Xuân Hương nghỉ ngơi.

 

Ông còn cho người nạo vét hồ, thả sen quý mọc đầy quanh "nhà thủy tạ", để hàng ngày, Hồ Xuân Hương với tay ra là hái được sen ướp trà thơm đãi khách. Dưới hồ, ông thả toàn cá ngon để người vợ yêu thưởng thức. Vườn cây bên hồ, ông dành một sào đất để trồng chanh cho vợ gội đầu. Dân làng còn kể, tóc bà Hồ Xuân Hương đen óng, dài chấm đất, mỗi khi gội, cuộn đầy một chậu, nên phải dùng nhiều chanh mới đủ.

Quanh hồ nước, ông Tổng Cóc cho trồng toàn liễu, rủ bóng xuống hồ rất đẹp. Chuyện là bên làng Sơn Dương cũng có một cái hồ, gọi là hồ Thất Liễu (hồ có 7 bờ, nên dân làng gọi là hồ Bảy bờ. Vì hồ trồng toàn liễu xung quanh, nên bà Hồ Xuân Hương gọi là hồ Thất Liễu, từ đó, dân gọi theo tên do bà đặt). Bên hồ Thất Liễu có tảng đá xanh, rất phẳng, rộng chừng 4m2.

Hàng ngày, Hồ Xuân Hương vẫn cùng Tú Điếc, nho Trâm, Tổng Cóc và bạn bè ngồi trên tảng đá, ngắm cảnh, làm thơ. Chuyện Hồ Xuân Hương thường làm thơ bên hồ Thất Liễu các cụ già ở Sơn Dương vẫn kể rành rẽ. Mấy chục năm trước, tảng đá, hồ nước vẫn còn, nhưng giờ người ta lấp kín làm nhà.

Ông Tổng Cóc cho trồng liễu quanh hồ để Hồ Xuân Hương có cảm giác như vẫn được ngồi bên hồ Thất Liễu cạnh nhà mình ngày xưa. Hồ Xuân Hương đã đặt tên cho hồ nước trong xanh với cảnh "đêm chép đớp trăng, ngày trắm quẫy sóng" ấy là Nguyệt Hồ.   

Phía bên trong hồ nước, giờ vẫn còn một gò đất cao. Nơi đó chính là nền nhà ông Tổng Cóc, mà bây giờ, ngôi nhà đó thuộc sở hữu của dòng họ Kiều Văn, bên xã Sơn Dương. Cũng tại địa điểm này, ông Tổng Cóc xây trường dạy học và Hồ Xuân Hương thường lên lớp mỗi khi ông đồ Cóc bận việc nước, hoặc mải chu du thiên hạ.

Bản thân bà Xuân Hương cũng thường xuyên được chồng cho đi ngao du cùng. Điều này có thể thấy rõ qua các bài thơ tả cảnh của bà. Đọc thơ bà, ta thấy hiện lên hình ảnh của những cuộc điền dã liên miên đến những danh lam thắng cảnh, những lễ hội tưng bừng náo nhiệt từ kinh kỳ cho đến những làng quê xa xôi. Chỉ có nhà danh gia, cự phú, công tử hào hoa như Tổng Cóc mới đủ tiền cho những cuộc du ngoạn của bà.

Chuyện rằng, mỗi lúc có bạn thơ đến chơi, thi sĩ họ Hồ lại sai người bắt cá dưới hồ đãi khách. Cách ăn cá của bà cũng lạ. Bất kể cá gì, dù to đến mấy bà cũng chỉ ăn khúc giữa, còn lại thì không đụng đũa. Vậy là chuyện ăn cá của Hồ Xuân Hương bị đồn thổi ầm ĩ, khiến làng nào, tổng nào cũng biết. --PageBreak--

Tất nhiên, những người tuyên truyền chuyện này nhiều nhất là vợ cả, vợ hai, bởi họ vốn phải chịu cảnh "ngậm bồ hòn làm ngọt". Hồ Xuân Hương đi đến đâu cũng phải nghe tiếng xa, câu gần: "Tổng Cóc sẽ khuynh gia bại sản, chứ ngót ba mẫu ao kia làm sao nuôi đủ cá mè, cá trắm cho "ngữ" ấy ngốn"...

Tổng Cóc dù có tính cách nghệ sĩ đến đâu cũng không thể vượt khỏi lề thói cổ hủ của làng mình, nhất là lại đối với giới nhà nho cố chấp. Tổng Cóc cũng đã khuyên can vợ bớt tính nghệ sĩ đi, chịu khó làm lụng, nhưng không ăn thua, thành thử, vợ chồng sinh ra xung khắc.

Một lần, có ông thầy bói bảo với bà vợ cả của Tổng Cóc: "Bà thử đặt lá chuối dưới chiếu cô vợ ba, nếu hôm sau, tàu lá chuối bị nhăn nhúm, rách nát thì là người bình thường, nếu tàu lá chuối còn lành lặn, đích thị cô ta là quỷ".

Hỡi ôi! người đàn bà lịch lãm như Hồ Xuân Hương, chứ có giống đâu mấy chị ăn no ngủ kỹ mà lăn bên nọ, lộn bên kia làm nát tàu lá chuối được. Thế là Tổng Cóc sinh nghi, rồi nản lòng. Chàng liền bỏ lại gia đình, để bức thư có ý trách móc dưới gối Hồ Xuân Hương, rồi lang bạt kỳ hồ.

Khi Tổng Cóc trở về thì biết nàng cũng đã bỏ đi trong cảnh bụng mang dạ chửa. Tổng Cóc đi dò la mới biết nàng đã làm vợ lẽ ông phủ Vĩnh Tường. Dân làng Sơn Dương vẫn còn kể chuyện rằng, ông phủ Vĩnh Tường đã đưa cả ngựa xe võng lọng đến đón Hồ Xuân Hương đi.

Chuyện Hồ Xuân Hương rũ bỏ ông Tổng Cóc đi lấy ông phủ Vĩnh Tường một cách nhanh chóng lẽ ra phải biến thành chuyện "xỏ xiên" của dân làng, nhưng chuyện ngược lại hoàn toàn.

Dân làng Tứ Xã lại ca ngợi và trân trọng hành động của bà, bởi họ biết rằng, bà Hồ Xuân Hương bỏ đi là hy sinh hạnh phúc của mình, để giữ uy tín cho ông Tổng Cóc trước việc làng, việc nước, giữ cho gia đình ông Tổng Cóc được trong ấm ngoài êm. Đến nay, người dân trong làng vẫn khẳng định rằng, bà Hồ Xuân Hương vì quá yêu chồng nên phải dứt tình ly biệt, một mình ra đi ôm theo nỗi đau câm lặng.

Đến ngày Xuân Hương khai hoa nở nhụy, Tổng Cóc đến gặp Hồ Xuân Hương với mục đích đón giọt máu của mình về nuôi, nhưng con sen nhà ông phủ Vĩnh Tường bảo rằng con gái của hai người đã chết ngay lúc lọt lòng. Chàng Cóc đành ra về, lòng sầu vô hạn. Thời gian sau, chàng nhận được bài thơ "Khóc Tổng Cóc".

Bài thơ là một lời giã biệt, vừa mang vẻ hờn oán, giận người bỏ đi, vừa như một lời khóc thương cho số kiếp của mình. Với người dân Tứ Xã, bài thơ đó ai cũng thuộc và đều hiểu rằng, Hồ Xuân Hương khóc cho một mối tình đã chết chứ không phải khóc vì ông Tổng Cóc đã chết với nước mắt ráo hoảnh, lời lẽ khinh bỉ (gọi ông với giọng coi thường là giống cóc, nhái bén, nòng nọc, chẫu chuộc) như cái ý thô thiển mà chúng ta vẫn hiểu.

Cũng chính vì khóc cho mối tình dang dở mà những câu chữ như mang nỗi lòng chảy nước mắt của con người bạc phận: "Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi/ Thiếp bén duyên chàng có thế thôi/ Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé/ Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!".

Giáo sư Lê Trí Viễn sau quá trình điền dã ở Tứ Xã, thanh minh cho Tổng Cóc và Hồ Xuân Hương đã phân tích bài thơ "Khóc Tổng Cóc" đúng với ý hiểu của người Tứ Xã: "Xưa nay cứ coi đây là lời khóc chồng và cũng không ai nghi ngờ gì. Dù cho đó không chỉ có đau xót mà có gì như một sự tiếc rẻ, thậm chí một sự ân hận nếu không là hờn oán. Có vẻ như một bài thơ giận người bỏ đi. Thương cho mình hơn là khóc cho người. Tóm lại, bài thơ không ra lời tang, là bài tự thương tự tiếc, không giận người mà chỉ tủi cho mình. Các nghiên cứu theo phương pháp hệ thống lại chỉ nhằm vào mấy chữ "cóc, bén (nhái bén), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc)" để thích thú cái tài thơ của nhà thơ, chứ không ngờ gì tới nỗi lòng chảy máu của bà".

Cụ Dương Văn Thâm sau mấy chục năm nghiên cứu về Tổng Cóc và Hồ Xuân Hương khẳng định thêm: "Dân làng Mương, làng Gáp biết thừa bài thơ “Khóc Tổng Cóc” của Hồ Xuân Hương là nàng "khóc" cho mối tình của mình với anh chồng nhu nhược. Chứ đâu phải khóc một người chồng đã chết, lại đi giễu nhau như là cóc, nòng nọc, nhái bén, chẫu chuộc, chả hóa ra là bạc ác độc địa lắm sao?".

Khi bài báo này chuẩn bị lên khuôn, chúng tôi nhận được thông tin từ ông Nguyễn Bình Ngạn rằng, dòng họ Nguyễn Bình đã tìm thấy mộ cụ Nguyễn Bình Kình, tên tục là Tổng Cóc. Cụ Nguyễn Bình Chấn, 84 tuổi, hiện sống ở xã Minh Phú, Đoan Hùng, Phú Thọ, cứ mỗi lần về ăn giỗ họ, lại dẫn dòng tộc tới khu vực mà theo cụ, đó là nơi chôn ông Tổng Cóc.

Cụ Chấn cũng như con cháu cụ Tổng Cóc nhớ rõ được nơi đặt mộ cụ là bởi mộ cụ Tổng Cóc nằm trong hậu cung chùa Vắp Cổ. Theo các cụ già, phải là người có uy lớn với dân làng, được dân làng kính trọng thì mới được chôn trong hậu cung của chùa.

Cụ Chấn kể rằng, trước năm 1945, cứ vào 25 tháng Chạp hàng năm, cụ Chấn lại được cha, chú dẫn đi tảo mộ, trong đó có mộ ông Tổng Cóc. Mộ ông Cóc rất to, xây bằng đá ong (xã Sơn Vi, cách Tứ Xã 2km có rất nhiều đá ong). Tuy nhiên, năm 1960, người ta đã phá khu mộ, phá hậu cung chùa Vắp Cổ để xây nhà kho Hợp tác xã nông nghiệp Thạch Vỹ (Tứ Xã).

Con cháu ông Tổng Cóc đều biết chuyện này, nhưng không thể khai quật mộ cụ, bởi nếu khai quật, cần phải phá bỏ ngôi nhà. Thật may mắn, cái trụ sở của hợp tác xã ấy đã nằm trúng vào dự án xây dựng trường mầm non số 1 của Tứ Xã. Sau khi phá bỏ nhà kho, dòng họ Nguyễn Bình đã tiến hành đào bới theo chỉ dẫn của ông Chấn và các cụ già trong họ và quả thực, họ đã tìm thấy một tiểu sành lớn, thành dày, có dáng dấp và họa tiết khá cổ, sơn màu xanh đen, không giống với những loại tiểu có cách nay vài chục năm.

Con cháu ông Tổng Cóc, dòng họ Nguyễn Bình đều khẳng định rằng, đó là mộ của cụ Tổng Cóc và họ đang trình dự án, thiết kế xây dựng cho Sở Văn hóa - Thông tin và Thể thao tỉnh Phú Thọ để xây dựng mộ cụ, hoàn thành trước thời gian diễn ra cuộc hội thảo: "Tổng Cóc - Hồ Xuân Hương", do Viện Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc dự tính chủ trì và tổ chức tại Tứ Xã vào cuối năm 2008.

                                                                                        (suu tam)


Nhắn tin cho tác giả
Phạm Thị Tiểu Thanh @ 22:52 22/06/2009
Số lượt xem: 2886
Số lượt thích: 0 người
Avatar
Doc bai nay minh lai co them mot cach hieu moi. Cam on nhe
 
Gửi ý kiến