Gốc > Văn học Việt Nam > VHVN từ sau 1975 >

Đóa hồng thắm trong thi ca Việt

Để hiểu được nét đẹp của con người cũng như ngôn ngữ của một nước thì không gì hơn là đọc các tác phẩm văn học, đặc biệt là thi ca của nước đó, bởi thơ có hình thức thể hiện ngắn gọn nhưng bao hàm ý tứ sâu xa. Sự quyến rũ của thơ lại không chỉ nằm trên trang giấy mà còn ở trong giọng đọc. Vì vậy, sinh hoạt thi ca có mặt ở khắp nơi trên thế giới, để giúp tâm hồn mỗi người tìm lại những xúc cảm đã đánh mất lần trong cuộc vật lộn mưu sinh.

 

Đó cũng là mục đích của "Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản" mỗi tháng tổ chức gặp gỡ một lần tại Palais d'Orsay ở Paris, chủ yếu nhằm giới thiệu một loại thơ truyền thống của Nhật Bản, giúp cho những người tham dự hiểu được vẻ đẹp trong tâm hồn người Nhật và ngôn ngữ Nhật.

Tanka, viết theo Hán tự là "Đoản ca", một thể thơ rất độc đáo của thi ca Nhật Bản. Nội dung diễn tả những cảm xúc vui-buồn-thương-giận của đời thường, lấy mọi chủ đề trong cuộc sống từ cảnh đẹp thiên nhiên đến muôn mặt tình cảm con người. Về hình thức, một bài thơ Tanka chỉ có 31 âm với cấu trúc 5-7-5-7-7, nhịp điệu phù hợp với đặc thù của tiếng Nhật.

Người Pháp, cũng như nhiều nước Âu Mỹ khác, rất yêu thích loại thơ này nên thành lập những câu lạc bộ để giới thiệu các bài Tanka nổi tiếng của Nhật, đồng thời khuyến khích hội viên đặt những bài thơ bằng tiếng Âu Mỹ có cấu trúc như thơ Tanka.

Trong bài viết này, tôi xin kể lại kỷ niệm liên quan đến một lần đi dự buổi sinh hoạt tại "Hội truyền bá Tanka Nhật Bản" ở Paris, mà qua đó tôi có dịp lên tiếng bênh vực thi ca của Việt Nam.

Vào một buổi chiều Chủ nhựt năm 1964, tôi được mời đến dự buổi sinh hoạt thường lệ của "Hội truyền bá Tanka Nhật Bản". Diễn giả đăng đàn hôm đó là một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp, thuyết trình về những nét đặc thù của thi ca Nhật Bản nói chung và Tanka nói riêng.

Tất cả những người hiện diện đều là hội viên gồm người Nhật và Pháp, chỉ duy nhất có tôi là khách mời đặc biệt của ban chủ nhiệm, nên diễn giả không biết rằng trong hội trường hôm ấy có một người Việt Nam.

Vị cựu Đề đốc mở đầu câu chuyện bằng một so sánh: "Trong quá trình công tác, tôi đã từng lưu lại Việt Nam gần 25 năm mà chưa từng đọc được một áng văn chương nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng đôi ba năm tôi đã khám phá ra một rừng thi ca văn học đa dạng và phong phú. Và trong khu rừng ấy nổi lên một đóa hoa tuyệt đẹp, đó là những bài thơ Tanka".

Diễn giả cho rằng, hiếm loại thơ nào trên thế giới, chỉ với 31 âm mà có thể diễn tả tất cả những cảm xúc sâu đậm, những phong cảnh tuyệt vời như trong thơ Tanka và minh họa bằng một số bài thơ Tanka đã được dịch sang tiếng Pháp. Ông lại đọc thêm nhiều bài thơ do một số thi sĩ Pháp, trong đó có ông, sáng tác theo cấu trúc của Tanka. Cử tọa nhiệt liệt hoan nghênh bằng những tràng pháo tay kéo dài.

Sau phần giao lưu, hỏi đáp giữa diễn giả và thính giả, trước khi bế mạc, như thường lệ ban chủ nhiệm đề nghị trong số khán thính giả còn câu hỏi hay thắc mắc nào khác cần bày tỏ hay không. Thế là tôi đứng dậy, xin phép được nói lên một số suy nghĩ.

Trước hết, tôi tự giới thiệu mình không phải là nhà thơ mà chỉ là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam, giáo sư môn Dân tộc nhạc học tại Đại học Sorbonne, nên không đủ khả năng để nhận xét điều gì đặc biệt hơn các thính giả vừa phát biểu về Tanka Nhật Bản.

Tôi chỉ thắc mắc là một người am tường thi ca Nhật như ngài Thủy sư Đề đốc, vậy mà trong 25 năm sống tại đất nước của tôi sao lại "không tìm ra một áng văn nào đáng kể"!

Thật đáng tiếc, phải chi trong giới bạn bè của ngài có những người như giáo sư Emile Gaspardone người Pháp, thì sẽ được biết đến một thư mục mà giáo sư đã ghi lại gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp, số 1 năm 1931.

Hay nếu quen được với nhà nghiên cứu người Pháp Maurice Durand, thì hẳn ngài sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam ông Durand đã cất công sưu tập, đã hiểu thêm về nghệ thuật Chầu văn trong đó có những bài ca ngợi các Đức Thánh, các Mẫu với văn chương rất sâu sắc.

Ông Maurice Durand cũng đã cộng tác với giáo sư bác sĩ Pierre Huard người Pháp, làm một thiên nghiên cứu về Việt Nam trong lĩnh vực dân tộc học, văn học và âm nhạc học, có tựa đề là "Connaissances du Vietnam" (Tìm hiểu nước Việt Nam). Chắc chắn ngài sẽ thấy Việt Nam không chỉ có một áng văn mà là hàng ngàn áng văn đáng kể.

Về giá trị của Tanka, tôi hoàn toàn đồng ý với ngài Đề đốc, đó là một thể loại đặc sắc với 31 âm mà tạo nên những bài thơ ngắn gọn, chỉ cần nêu lên một con sông, ngọn núi hay đóa hoa mà đủ diễn tả một cách thi vị tình cảm đôi lứa.

Tuy nhiên, về điểm đó thì văn học Việt Nam của chúng tôi không hề thua kém. Dẫu không có chuyên môn về thi ca, nhưng tôi cũng có thể đưa một vài dẫn chứng điển hình để minh họa. Chẳng hạn trong câu thơ chỉ cần nhắc đến ngọn núi cũng đủ diễn tả hết tình thương nỗi nhớ:

Núi cao chi lắm núi ơi

Núi che mặt trời chẳng thấy người thương

Hay chàng trai bóng bẩy dùng hoa trái để ướm hỏi người con gái mình đem lòng yêu thương:

Hôm nay Mận dám hỏi Đào

Vườn Hồng đã có ai vào hay chưa?

 

Còn nếu đề cập những bài thơ ngắn gọn, chỉ 31 âm mà diễn tả được một sự kiện đầy đủ, tôi có thể đơn cử bài thơ của một sứ thần người Việt là Mạc Đĩnh Chi. Lần đó Mạc Đĩnh Chi phụng mệnh vua Trần Anh Tông đi sứ sang Trung Hoa, đến yết kiến nhà vua đúng vào dịp lễ tế một hậu phi sủng ái vừa qua đời. Vua Nguyên muốn thử tài ứng đối nên sai người đưa một bài điếu văn nhờ vị sứ thần đọc lên. Mạc Đĩnh Chi mở tờ giấy ra thì chỉ thấy vỏn vẹn bốn chữ "Nhất". Không hề lúng túng, ông vừa chậm rãi xếp tờ giấy lại vừa ứng tác ngay một bài điếu văn:

Thanh thiên nhất đóa vân

Hồng lô nhất điểm tuyết

Thượng uyển nhất chi hoa

Dao trì nhất phiến nguyệt.

Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!

Tạm dịch:

Trên trời xanh có một áng mây

Ở lò hồng có một nụ tuyết

Trong vườn ngự có một bông hoa

Trên mặt hồ có một mảnh trăng

Than ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng lặn!

Để khóc than một hồng nhan vắn số, theo đúng yêu cầu phải có bốn chữ Nhất, sứ thần của chúng tôi đã sáng tác một bài thơ ngắn chỉ 29 âm mà bao hàm đầy đủ ý nghĩa, khi ví giai nhân như một áng mây, một nụ tuyết, một bông hoa, một mảnh trăng, tiếc thay vẻ đẹp ấy đã không còn trên cõi đời!

Và tôi kết luận: "Trên đây tôi chỉ mới giới thiệu vài đóa hồng thắm trong thi ca của khu rừng văn học đất nước tôi, để đính chánh điều mà diễn giả cho rằng Việt Nam không có một áng văn nào đáng kể. Đồng thời tôi cũng xin thưa với ngài Thủy sư Đề đốc, khi muốn đưa ra một hình ảnh so sánh nào thì cần cẩn trọng để khỏi vô tình xúc phạm đến cả một nền văn hóa, chỉ vì mình chưa hiểu thấu đáo. Cuối cùng, tôi chân thành xin lỗi toàn thể quý vị vì đã đi ra ngoài chủ đề chính của buổi gặp gỡ hôm nay".

Không ngờ cử tọa chẳng những không phật lòng mà còn vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Vị Thủy sư Đề đốc đứng lên phát biểu: "Đây là lần đầu tiên tôi được gặp vị khách này, sau khi nghe ông phê bình cách so sánh của tôi trong phần nhập đề đã vô tình làm tổn thương nền văn học của một dân tộc, tôi vô cùng ân hận. Xin thành thật nhận lỗi vì những nhận xét không đúng về giá trị thi ca Việt Nam, và đặc biệt xin ông tha thứ cho tôi". Nói xong, ông cúi đầu trước mặt tôi với vẻ ân hận chân thành.

Sau khi buổi họp bế mạc, ông Thủy sư Đề đốc và phu nhân đến gặp tôi, bắt tay xin lỗi lần nữa và ngỏ ý muốn được có dịp tìm hiểu thêm về thi ca và âm nhạc dân tộc Việt Nam. Và không chỉ vợ chồng ông, mà cả bà chủ nhiệm Hội Truyền bá Tanka cũng tha thiết mời tôi thuyết trình trong hai buổi họp liên tiếp sau đó của hội về đề tài: "Các loại thi ca trong văn chương Việt Nam" và "Đại cương Âm nhạc truyền thống Việt Nam".

Mà như các bạn đã biết, được dịp nói chuyện với bạn bè thế giới về văn hóa và âm nhạc Việt Nam, làm sao tôi có thể từ chối cho được!

Tác giả: GS. TS Trần Văn Khê


Nhắn tin cho tác giả
Lê Trung Chánh @ 20:31 25/02/2010
Số lượt xem: 1027
Số lượt thích: 0 người
Avatar
Cảm ơn anh Chánh. Em chúc anh một buổi tối vui vẻ!
Avatar
 
Gửi ý kiến