Gốc > Bài viết tổng hợp > Trao đổi chuyên môn >

"Dạy - học trong thời đại mới". Học tư duy. Tự học.

Một cậu bé vùi đầu vào cuốn sách trên cây cao tại Washington, D.C.Khoảng vài năm, vốn kiến thức của nhân loại lại tăng gấp đôi.

Trong khi đó thời gian học không tăng và cuộc sống đòi hỏi nhà trường rèn luyện cho HSSV nhiều phẩm chất, năng lực mới như “độc lập suy nghĩ”, “năng động sáng tạo”, khả năng giao tiếp, thuyết phục, làm việc nhóm...

Vậy giáo dục sẻ đáp ứng thế nào? Có ý kiến cho rằng phải ứng dụng CNTT, điều đó đúng nhưng chẳng có công nghệ, máy móc nào "học hộ" con người được, máy móc (nếu có) chỉ hỗ trợ với tư cách là phương tiện.

Ý kiến khác là tinh giản chương trình, loại ra những gì lạc hậu, đưa những nội dung mới, hiện đại vào; cũng có ý kiến là phải đào tạo theo chuyên ngành hẹp (trong dạy nghề) thì người học mới "ôm" nổi kiến thức rồi tổ chức để những người ở những chuyên ngành hẹp khác nhau hợp tác với nhau.

Luận điểm.

Khi nói “học”, phổ biến là nghĩ đến học "kiến thức". Hỏi một PHHS tại sao con em đi học thêm thì câu trả lời là: “Để củng cố kiến thức”. Hỏi một GV về mục đích phụ đạo HS ngồi nhầm lớp thì được trả lời: “Để lấp các lỗ hổng kiến thức”.

Rõ ràng nhiều người không nghĩ xa hơn “kiến thức”. Mà chất lượng kiến thức nằm ở bản thân kiến thức phần nào thôi, còn phần lớn lại nằm ẩn sau “kiến thức”. Trước hết là “tư duy”.

nls-docsach03Khi nói đến khoa học, hầu hết chỉ nêu KHTN và KHXH mà quên mất khoa học tư duy, mặc dù chúng ta đã khẳng định đối tượng của khoa học là giới tự nhiên, xã hội loài người và tư duy con người.

Từ tư duy đi lên các bậc thang của sự trừu tượng thì sẽ đến những khái niệm như quan điểm, tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận và theo đó đạt được những phẩm chất như "có tư duy độc lập", “có bản lĩnh kiên trì chân lý”, sự thính nhạy với các quy luật...

Theo các bậc thang trừu tượng thì thấp nhất là quan hệ về kiến thức (kiến thức môn này phục vụ cho môn khác) rồi đến quan hệ về tư duy (kiểu tư duy ở môn này cũng là kiểu tư duy ở môn khác) và cao nhất là quan hệ về quan điểm, tư tưởng, phương pháp luận cùng với những quan hệ về nhân cách người học (những đức tính cần để học môn này cũng là những đức tính cần để học môn khác ví dụ như yêu cầu về tính khách quan, chính xác).

Việc dạy và học hiện nay nhìn chung chưa qua khỏi học “kiến thức”, còn xa mới chạm đến những bậc thang trừu tượng, chính vì vậy việc nắm kiến thức còn thiếu chiều sâu.

Thực tế có những người công tác trái chuyên môn, ngành nghề nhưng vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ nhờ có nhân sinh quan, thế giới quan, phương pháp luận chính xác, vững chắc cùng những đức tính như biết dùng người, biết lắng nghe, có bản lĩnh dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm...

Kiến thức thì đã có chương trình, sách giáo khoa trình bày rõ ràng còn những điều khác như tư duy, quan điểm, tư tưởng... thì ẩn đằng sau. Trách nhiệm của GV là giúp HS làm cho chúng "hiện ra" nhưng giờ học trên lớp rất hạn chế, HS phải tranh thủ mọi cơ hội để ngâm, tẩm kiến thức trong dung môi thực tiễn cuộc sống thì những điều trừu tượng trên mới ngấm, thấm dần, đến một độ nào đó chuyển biến thành tư tưởng, quan điểm giống như những hạt cát li ti tích lũy dần sẽ thành bãi phù sa.

Học như thế nào.

Vấn đề là phải gia tốc việc sản sinh ra các hạt cát li ti để có được bãi phù sa. Đó là cách học nhờ tự học: học mọi lúc, mọi nơi, học mọi người, học bằng mọi cách, trong mọi hoàn cảnh, qua mọi nội dung.

Cách học này bổ sung vào cách học có tổ chức (trường học). Người học chỉ cần có ý thức học, nó nhẹ nhàng giống như cách “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.

Chuyện nhỏ nhưng lợi ích lớn, giống như mỗi ngày để ra một ít thời gian đi bộ, tránh việc hễ ra khỏi nhà là lên xe, lên lầu cao là thang máy, là chuyện nhỏ nhưng giữ được đều đặn lâu dài thì rất có lợi cho sức khoẻ.

Đối với HS tiểu học thì đây chính là “chơi mà học” nhưng GV và phụ huynh nên lái dần việc “chơi mà học” vào quỹ đạo học dần lên cao.

GSVS Nguyễn Cảnh Toàn:

Nhiều người nghĩ rằng như vậy thì khó quá. Khó là vì “kính nhi viễn chi”. Cứ “kính nhi cận chi” thì cái khó cũng hóa thành dễ. Tôi đã phụ trách chuyên đề “phương pháp luận toán học” cho cao học ở trường đại học sư phạm Hà Nội. Học viên là các thầy dạy toán ở THPT. Buổi gặp mặt đầu tiên, tôi ra bài kiểm tra: “Hãy nói về phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong toán học”. Họ ngớ người ra, cứ tưởng thầy kiểm tra xem kiến thức toán đại học đến đâu, ngờ đâu lại là đề kiểu lạ này. Chờ độ 15 phút, chả ai làm được gì, tôi mới nói cho họ biết rằng hàng ngày họ dạy cho HS các định lý, các công thức toán học. Đó là những chân lý đúng mọi lúc, mọi nơi, tức là những bất biến. HS đem các định lý, công thức đó để giải rất nhiều bài toán, đó là vạn biến. Khi đó họ mới bộc lộ rằng do nhớ đến việc năm 1946, bác Hồ sang Pháp, cử cụ Huỳnh làm quyền chủ tịch; cụ Huỳnh hỏi kế sách trị nước. Bác Hồ trả lời: “dĩ bất biến ứng vạn biến” nên họ cứ nghĩ rằng phương châm đó là giành cho các chính khách và họ hoàn toàn bất ngờ khi thấy nó liên quan đến việc dạy - học hàng ngày.

GV lo dạy “trực quan” cho HS dễ hiểu. Nhưng lo đến mức nào là vừa? Trực quan là bắc những bậc thang cho HS leo trên trừu tượng và rồi lại biết từ cái trừu tượng mà xuống đến cái cụ thể. Bắc thang thế nào là tối ưu? Đây là một vấn đề quan trọng của khoa học sư phạm ngày nay. Làm được tốt thì sẽ đối mặt với sự phát triển siêu vũ bão của khoa học và công nghệ một cách không vất vả lắm.

st


Nhắn tin cho tác giả
Đoàn Thị Thuỷ @ 21:01 15/05/2010
Số lượt xem: 830
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến