Gốc > Bài viết tổng hợp > Bac Ho kinh yeu >

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán trận chiến Điện Biên Phủ



Từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với tầm nhìn xa trông rộng, Bác Hồ đã thấy vị trí quan trọng của hướng chiến lược Tây Đông Dương trải dài rộng từ trung - thượng đến hạ Lào.
Ngay từ mùa xuân năm 1947, Bác đã chỉ thị cho các đội vũ trang tuyên truyền phải kiên trì chiến đấu và gầy dựng cơ sở trong đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc, phải “Đem được lá cờ đỏ sao vàng cắm lên đất Điện Biên Phủ”(1). Ít người được biết từ tháng 6-1949, “Trận cuối cùng kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán khi Người viết tác phẩm “Giấc ngủ mười năm” với bút danh Trần Lực, do Tổng bộ Việt Minh xuất bản(2). Với sự nhạy cảm tuyệt vời, Người đã hình dung trận đánh cuối cùng mà “Theo kế hoạch của giặc thì trận ấy phải là một trận khủng khiếp nhất, nhưng là khủng khiếp cho giặc”, Người dự đoán trận ấy “Hơn một vạn giặc chết và bị thương” chưa kể các chiến trường khác.

Để đi tới “Trận cuối cùng” ấy, mùa thu năm 1952, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng chủ trương chuyển hướng chiến lược lên vùng rừng núi Tây Bắc. Trong Hội nghị bàn về kế hoạch chiến dịch Thu Đông năm 1953, Người đã căn dặn các cán bộ: “Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường mới đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi”. Sau khi chuyển hướng chiến lược lên vùng rừng núi Tây Bắc, tháng giêng năm 1953, Bác Hồ lại định ra 10 chính sách quân sự, chỉ đạo cuộc kháng chiến trong giai đoạn phản công và tiến công chiến lược. Người vạch rõ: “Phương hướng chiến lược của ta là: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do”. Trên các chiến trường sau lưng địch “Phải mở rộng du kích chiến đấu để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch, để chống càn quét, bảo vệ tính mạng, tài sản của dân, để quấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền giáo dục quần chúng. Ngoài việc tăng cường bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, cần phải xây dựng những tổ chức dân quân du kích không thoát ly sản xuất. Về mặt chỉ đạo quân sự, phải phối hợp mặt trận trước mặt địch với mặt trận sau lưng địch một cách linh hoạt... phải có kế hoạch xây dựng và bổ sung bộ đội chủ lực, tăng cường trang bị nhất là xây dựng pháo binh”.

Theo tư tưởng chỉ đạo ấy của Bác, quân ta trên khắp các chiến trường đã triển khai chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện biên Phủ. Bộ đội chủ lực gồm các đại đoàn được bổ sung quân, vũ khí và huấn luyện đánh tập đoàn cứ điểm. Pháo binh được trang bị thêm nhiều súng hạng nặng. Bộ đội địa phương và du kích phát triển mạnh. Các đợt chỉnh huấn quân sự và chỉnh quân chính trị tiến hành rất khẩn trương, đối tượng chủ yếu là cán bộ trung, cao cấp. Các công tác tham mưu, hậu cần vươn lên đáp ứng yêu cầu các trận đánh, các chiến dịch lớn... Tất cả những chuẩn bị đó là để sẵn sàng đi tới thực hiện quyết định của Bác trong cuộc họp Bộ Chính trị ở Tỉn Keo (ATK-Việt Bắc) đầu tháng 10-1953.

Trong kế hoạch tác chiến, Bộ Tổng tham mưu khẩn trương xây dựng, lấy Tây Bắc làm hướng chính.

Bước 1: sử dụng Đại đoàn 316 tiến công diệt địch ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn khu Tây Bắc.

Bước 2: đại đoàn phối hợp với Trung đoàn 148 của khu Tây Bắc và bộ đội tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng Pa-Thét Lào tiến công giải phóng Phông Xa Lỳ. Hướng trung và hạ Lào sử dụng Trung đoàn 66 của Đại đoàn 404, Trung đoàn 101 của Đại đoàn 225 do hai tư lệnh hai đại đoàn này phụ trách phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam và bộ đội Lào tiến công các vị trí xung yếu tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, đánh thông hành lang Nam Bắc Đông Dương.

Khối bộ đội chủ lực còn lại gồm các Đại đoàn 308, 312, 304, Đại đoàn công pháo 351 và Trung đoàn 246, giấu quân bí mật vùng trung du sẵn sàng cơ động lên Tây Bắc và đánh địch nống ra các vùng tự do của ta. Kế hoạch nhất quán lấy hướng tiến công chiến lược: “Lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là hướng phối hợp”.

Ngày 19-11-1953, Bộ Tổng tư lệnh triệu tập hội nghị quân chính cấp trung đoàn để phổ biến kế hoạch tác chiến Đông-Xuân, đang họp có tin ngày 20-11 Nava cho quân nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ. Kế hoạch tác chiến của ta chưa triển khai thì  trước đó, ngày 15 và 16-10 Nava đã mở cuộc hành binh Hải Âu đánh ra Tây Nam Ninh Bình và cuộc hành binh “Con bồ nông” đánh vào vùng bờ biển Thanh Hóa. Sự kiện nằm trong dự kiến của ta là: Nếu Tây bắc và thượng Lào bị uy hiếp thì quân địch sẽ tăng viện lên đó. Nava đã lúng túng và bị động.

Ngày 23-11-1953, hội nghị sắp kết thúc thì Bác đến thăm và dặn dò cán bộ trước khi lên đường ra mặt trận. Người nói: “Vì tình hình địch có thể thay đổi, nên các chú phải luôn luôn nắm vững phương châm chỉ đạo tác chiến mà Bộ Chính trị đã đề ra là tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”.

Thực hiện lời Bác, quân đội ta chủ động tạo ra thời cơ và tích cực nắm lấy thời cơ, buộc địch phải đảo lộn kế hoạch tác chiến trong 18 tháng của Tổng Chỉ huy Nava. Buộc địch phải “Tổng giao chiến” sớm hơn một năm so với ý đồ ban đầu của chúng. Hạ tuần tháng 12-1953, Bộ Chính trị hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Thực hiện lời Bác căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh”. Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy chiến dịch, được Bác “Trao cho chú toàn quyền quyết định”. Quân ta “Đánh chắc, tiến chắc”, đến ngày 7-5-1954 toàn thắng trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Lịch sử đã chứng minh tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với Việt Nam - Điện Biên Phủ.

 (1) Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh ở Điện Biên Phủ, Tạp chí Xưa và Nay, số 5-1995

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập V - NXB Chính trị Quốc gia, 1995

Nguồn tin: Theo baohaugiang.com.vn

Nhắn tin cho tác giả
Đoàn Thị Thuỷ @ 21:38 07/06/2010
Số lượt xem: 1049
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến