Gốc > Văn học Việt Nam > VH VN từ TK X đến TK XIX (VHTĐ) > Thơ Trung Đại > Nguyễn Trãi >

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO


Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng,

Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

Nước non bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác;

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương;

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,

Song hào kiệt thời nào cũng có.

Cho nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại;

Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Việc xưa xem xét.

Chứng cứ còn ghi.

Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước lòng dân oán hận

Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn

Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế

Gây thù kết oán trải mấy mươi năm

Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị

Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.

Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,

Ngán thay cá mập thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,

Khốn nỗi rừng sâu nước độc.

Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.

Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.

Thằng há miệng, đứa nhe răng,

Máu mỡ bấy no nê chưa chán,

Nay xây nhà, mai đắp đất,

Chân tay nào phục dịch cho vừa ?

Nặng nề những nổi phu phen

Tan tác cả nghề canh cửi.

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!

Lòng người đều căm giận,

Trời đất chẳng dung tha;

Ta đây:

Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu,

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,

Tấm lòng cứu nước,

Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,

Cỗ xe cầu hiền,

Thường chăm chắm còn dành phía tả.

Thế mà:

Trông người, người càng vắng bóng,

Mịt mù như nhìn chốn bể khơi.

Tự ta, ta phải dốc lòng,

Vội vã hơn cứu người chết đói.

Phần vì giận quân thù ngang dọc,

Phần vì lo vận nước khó khăn,

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Lúc Khôi Huyện quân không một đội.

Trời thử lòng trao cho mệnh lớn

Ta gắng trí khắc phục gian nan.

Nhân dân bốn cõi một nhà,

Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử,

Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.

Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạọ

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh.

Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,

Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.

Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm

Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu

Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.

Vương Thông gỡ thế nguy,

Mà đám lửa cháy lại càng cháy

Mã Anh cứu trận đánh

Mà quân ta hăng lại càng hăng.

Bó tay để đợi bại vong,

Giặc đã trí cùng lực kiệt,

Chẳng đánh mà người chịu khuất,

Ta đây mưu phạt tâm công.

Tưởng chúng biết lẽ ăn năn

Nên đã thay lòng đổi dạ

Ngờ đâu vẫn đương mưu tính

Lại còn chuốc tội gây oan.

Giữ ý kiến một người,

Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,

Tham công danh một lúc,

Để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:

Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng

Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy

Đinh Mùi tháng chín,

Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại

Năm ấy tháng mười,

Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.

Ta trước đã điều binh thủ hiểm,

Chặt mũi tiên phong

Sau lại sai tướng chẹn đường

Tuyệt nguồn lương thực

Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong

Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.

Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá

Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau

Lại thêm quân bốn mặt vây thành

Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc

Sĩ tốt kén người hùng hổ

Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn

Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Đánh một trận, sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông.

Cơn gió to trút sạch lá khô,

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.

Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,

Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.

Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường

Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước

Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,

Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.

Bị ta chặn ở Lê Hoa,

Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,

Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân.

Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,

Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc

Thành Đan Xá, thây chất thành núi,

Cỏ nội đầm đìa máu đen.

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù,

Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng

Thần vũ chẳng giết hại,

Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh

Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,

Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,

Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,

Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.

Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.

Chẳng những mưu kế kì diệu

Cũng là chưa thấy xưa nay

Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu

Muôn thuở nền thái bình vững chắc

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông

Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,

Nên công oanh liệt ngàn năm

Bốn phương biển cả thanh bình,

Ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,

Ai nấy đều hay.

206-ThoiLe_DenthoNguyenTrai.jpg image by PDinh

Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn

Giải thích từ ngữ:

Đại cáo: có thể hiểu là tuyên cáo rộng khắp hoặc là bài cáo có quy mô lớn. Bình Ngô: dẹp yên (bình) giặc Ngô, tức giặc Minh. Đời Ngô (thời Tam Quốc), bọn người sang cai trị nước Việt đều tàn ác nên dân Việt từ đó gọi người phương Bắc là người Ngô với ý khinh ghét.
Hành hóa: làm việc cảm hóa dân chúng thành người tốt.
Hoàng thượng: hoàng là những gì thuộc về vua, thượng là trên. Hoàng thượng là từ dùng để gọi nhà vua một cách tôn kính. Thay trời...
truyền rằng: câu này thường có trong các giấy tờ quan trọng của các vua đời Lê.
Nhân nghĩa: vốn là học thuyết đạo đức của Nho giáo trong đó nói về những đạo đức, tình thương của con người với nhau. ở đây tác giả đã tiếp thụ tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo theo hướng lấy lợi ích nhân dân, dân tộc làm gốc. Ngũ thường của Nho giáo (nhân, lễ , nghĩa, trí, tín)
Yên dân: đưa lại cuộc sống yên ổn cho dân.
Điếu phạt: vì thương xót (điếu) dân chúng bị tàn hại mà dùng quân đội trừng phạt (phạt) kẻ gây tội ác.
Trừ bạo: tiêu diệt kẻ bạo tàn (đây là nói giặc Minh xâm lược).
Đại Việt: tên nước Việt Nam từ đời vua Lý Thánh Tông.
Văn hiến: từ dùng chỉ một đất nước có thể chế kỷ cương chính trị tiến bộ, có truyền thống văn minh vật chất và tinh thần tốt đẹp, có sách vở và có người tài giỏi.
Bắc Nam : Bắc chỉ Trung Quốc , Nam chỉ Việt Nam .
Đinh, Lý, Trần: các triều đại đă xây dựng nền độc lập buổi đầu của Việt Nam sau khi thoát khỏi ngàn năm Bắc thuộc. Riêng Triệu, chính là Triệu Đà đă từng cướp nước Âu Lạc mà sách xưa từng lầm là một triều đại của nước ta. ở đây Nguyễn Trăi cũng lầm.
Hán, Đường, Tống, Nguyên: các triều đại của Trung Quốc.
Hào kiệt: người có tài năng hơn người.
Lưu Cung: vua của Nam Hán (Trung Quốc) từng sai con là Hoằng Thao đem quân xâm lược bị Ngô Quyền đánh bại trên sông Bạch Đằng.
Tham công: tham lập công.
Triệu Tiết: tướng nhà Tống đem quân xâm lược Đại Việt bị Lý Thường Kiệt đánh đuổi.
Toa Đô: tướng Nguyên - Mông sang xâm lược Đại Việt bị giết (không phải bị bắt sống) trong trận Hàm Tử.
Ô Mã Nhi, tướng Nguyên Mông xâm lược Đại Việt bị bắt sống, không phải bị giết.
Chính sự phiền hà: việc chính trị có nhiều điều phiền nhiễu, hà khắc.
Cuồng Minh: giặc Minh điên cuồng.
Gian tà: xấu xa, trái lẽ phải.
Cầu vinh: mưu cầu vinh quang bất chính.
Dân đen: tục xưa, người dân không được đội mũ, chỉ để đầu tóc đen mà đi. Do đó có từ dân đen để chỉ dân thường.
Con đỏ: trẻ con mới đẻ ra còn đỏ hỏn, cần săn sóc. Do đó có từ con đỏ để chỉ người dân cần được kẻ làm quan chăn dắt.
Hai mươi năm: tính thời gian quân Minh xâm lược Đại Việt từ 1407 đến 1427. ý cả câu: theo quan niệm xưa, nhân nghĩa của con người được trời đất, vũ trụ chứng kiến, tham gia. Nay giặc Minh tàn hại dân là làm tan cả nhân nghĩa mà cũng nát cả đất trời.
Dòng lưng: buộc dây vào lưng. Giặc Minh bắt dân Việt dòng dây vào lưng để ném xuống biển mò ngọc trai.
Cá mập: giống cá dữ hay ăn thịt người.
Thuồng luồng: một loại rắn biển rất dữ.
Dò, bẫy, cạm, lưới: các dụng cụ dùng bắt chim, thú.
Chim sả: loại chim có bộ lông mầu xanh biếc rất đẹp.
Hươu đen: loại hươu có bộ lông đen rất quý.
Phục dịch: hầu hạ theo lệnh của người khác (giặc Minh).
Canh cửi: nghề dệt vải lụa.
Trúc Nam Sơn: trúc là tre. Ngày xưa khi chưa có giấy, người ta phải ghi chữ trên thanh tre. Tre núi Nam .
Đông Hải: biển Đông.
Lam Sơn: nay thuộc xă Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, quê hương của Lê Lợi và là nơi căn cứ địa đầu tiên của cuộc khởi nghĩa chống Minh do Lê Lợi phát động.
Hoang dã: nơi đồng quê hoang vu.
Nếm mật nằm gai: ăn thì nếm mật đắng, ngủ thì nằm trên gai. ý nói chịu gian khổ để không quên chuyện phục thù.
Sách lược thao: sách binh pháp ngày xưa gồm "tam lược" và "lục thao".
Hưng phế: hưng là dấy lên thịnh vượng. Phế là hư bỏ. Người xưa có quan niệm về hưng phế, về thịnh suy và coi đó như là luật của tự nhiên, hết hưng đến phế, hết phế đến hưng, cứ thế cứ thế... Các triều đại đều đã có hưng, có phế.
Đồ hồi: mưu tính (đồ) để kéo trở lại (hồi), tức nói khôi phục.
Tuấn kiệt: kẻ tài giỏi. Như sao buổi sớm: ý nói hiếm.
Như lá mùa thu: mùa thu lá rụng hết. ý nói hiếm
Việc bôn tẩu: bôn là nhanh, tẩu là chạy. Việc bôn tẩu: việc chạy đây chạy đó để lo công việc cần kíp.
Duy ác: màn che nơi bộ tham mưu của quân đội xưa. Đây có nghĩa là nơi bàn việc quân.
Tiến về đông: khởi nghĩa bắt đầu ở phía tây Thanh Hóa, nên tiến về đông là tiến về đồng bằng, tiến về Đông Kinh (tức Hà Nội ngày nay) để từ đó tiếp tục tiến lên giành thắng lợi cuối cùng (Tiến về đông; Trong nguyên tác là "dục đông" vốn thuộc câu nói của Lưu Bang khi ông này bị Hạng Võ phong cho vào Tây Thục: "Dư diệc dục đông, an năng uất uất cửu cư thứ hồ". (Ta muốn trở về đông, sao chịu uất ức ở măi chốn này).
Dành phía tả: theo điển xưa, để chờ đợi đón người hiền tài đến giúp, người ta đă dành sẵn phía bên trái cỗ xe. ở đây, ý nói chờ người hiền tài cùng tham gia chống giặc.
Linh Sơn: núi Chí Linh thuộc huyện Lang Chánh ở miền núi Thanh Hóa (không phải Chí Linh là một huyện ở Hải Dương). Nguyễn Trãi có bài Phú núi Chí Linh là Chí Linh này.
Khôi Huyện: cũng gọi là Khôi Sách, thuộc miền tây của tỉnh Ninh B́nh.
Mệnh lớn: Sứ mệnh lớn, sứ mệnh cứu nước. Câu này trong nguyên văn có nghĩa là: giương gậy làm cờ, manh lệ bốn phương tụ họp. Manh là người đi cày. Lệ là người đi ở. Nghĩa quân Lam Sơn gồm những người manh lệ đó.
Hoà nước sông: xưa có viên tướng giỏi, được tặng một bình rượu, đă đem đổ xuống sông rồi cùng quân sĩ múc nước sông lên uống. ý nói tướng sĩ cùng một lòng, đồng cam cộng khổ.
Xuất kỳ: ra quân một cách bất ngờ làm cho kẻ địch không lường được.
Mai phục: ẩn núp chờ địch đến để đánh bất ngờ.
Đại nghĩa: nghĩa lớn
Chí nhân: lòng nhân ở độ hết mực. ý cả hai câu: lấy lư tưởng nhân nghĩa để thắng giặc Minh là kẻ hung tàn, cường bạo.
Bồ Đằng: một ngọn núi thuộc huyện Quỳ Châu, Nghệ An.
Trà Lân: một địa điểm thuộc huyện Con Cuông, Nghệ An.
Trúc trẻ, tro bay: cái thế chẻ trúc là cái thế chỉ chẻ một nhát ở đầu là cả cây sẽ toác dần ra. Còn tro bay thì sẽ tung tóe. ý nói sức mạnh chiến thắng của nghĩa quân làm cho quân thù tan tác như tro bay và không thể cưỡng nổi như tre đã bị chẻ.
Sĩ khí: khí thế của binh lính (chứ không phải của kẻ sĩ, của học trò như trong câu thơ của Tú Xương sau này: "Sĩ khí rụt rè gà phải cáo").
Quân thanh: tiếng tăm của quân đội.
Trần Trí, Sơn Thọ: hai tên tướng giặc. Mất vía: sợ hết hồn. Nguyễn Trãi đă từng viết thư và làm lung lay tinh thần hai viên tướng này.
Lý An, Phương Chính: hai tên tướng giặc.
Tây Kinh: Tây Đô ở Thanh Hóa, nơi nhà Hồ đóng đô. (thành Nhà Hồ)
Đông Đô: Thăng Long (Hà Nội).
Ninh Kiều: Một địa điểm thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Tây.
Tụy Động hoặc Tốt Động: một địa điểm khác cũng thuộc huyện Chương Mĩ.
Phúc tâm quân giặc: những tên tay chân được giặc tin như bụng (phúc) như lòng (tâm) của mình.
Mọt gian kẻ thù: kẻ thù gian ngoan sâu mọt.

Thân thế và sự nghiệp của Ngyễn Trãi

Nguyễn Trãi, ngôi sao Khuê của văn hóa Việt Nam


Nguyễn Trãi, sinh ở Thăng Long trong gia đình ông ngoại là quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Cha ông là Nguyễn ứng Long, hiệu ức Trai (tức là Nguyễn Phi Khanh). Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên Đán.

Năm Nguyễn Trãi lên 5 tuổi, mẹ ông mất. Sau đó không lâu, Trần Nguyên Đán cũng mất. Ông về ở với cha tại quê nội ở làng Nhị Khê.

Năm 1400, để cứu vãn chế độ phong kiến đang khủng hoảng trầm trọng, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần và tiếp tục thi hành các cải cách như chính sách hạn nô, hạn điền, tổ chức lại giáo dục, thi cử và y tế.

Cũng năm 1400, sau khi lên ngôi Vua, Hồ Quý Ly mở khoa thi. Nguyễn Trãi ra thi, ông đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm ông 20 tuổi. Hồ Quý Ly cử ông giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Còn cha ông là Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng nhãn từ năm 1374, được Hồ Quý Ly cử giữ chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa trung thư kiêm Hàn lâm Viện học sĩ tư nghiệp Quốc Tử Giám.

Năm 1406, Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mang quân sang xâm lược Việt Nam . Nhà Hồ đem quân ra chống cự, nhưng bị đánh bại. Cha con Hồ Quý Ly và một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt và bị đưa về Trung Quốc.

Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù.

Nhân lúc vắng vẻ, Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi:

-Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao? Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở lại tìm con đường đánh giặc, cứu nước. Về đến Thăng Long, ông bị quân Minh bắt. Thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc biết Nguyễn Trãi là một nhân vật có tài, tìm cách dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết không theo giặc. Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc vào Thanh Hóa theo Lê Lợi. Ông gặp vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn ở Lỗi Giang. Ông trao cho Lê Lợi bản chiến lược đánh đuổi quân Minh mà sử sách Việt Nam gọi là Bình Ngô sách.

Trong bài tựa ức Trai di tập, Ngô Thế Vinh cho biết: Bình Ngô sách "hiến mưu trước lớn không nói đến việc đánh thành, mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người".
Lê Lợi khen chiến lược của Nguyễn Trãi là đúng. Và ông đã vận dụng chiến lược này để đánh quân Minh. Từ đây, ông thường giữ Nguyễn Trãi gần bên mình để cùng bàn mưu tính kế đánh quân Minh.

Cuối năm 1426, Lê Lợi lập bản doanh ở bến Bồ Đề (Gia Lâm). Tại đây, ông cho dựng một cái chòi cao ngang bằng tháp Báo Thiên ở Đông Quan. Lê Lợi ngồi tầng thứ nhất của chòi, Nguyễn Trãi ngồi tầng thứ hai. Hai nhân vật luôn luôn trao đổi ý kiến với nhau. Trong kháng chiến, Nguyễn Trãi chủ trương phải dựa vào dân thì mới đánh được giặc, cứu được nước. Khi kháng chiến đã thắng lợi, ông cũng thấy rằng phải lo đến dân, thì mới xây dựng được đất nước. Trong tờ biểu tạ ơn được cử giữ chức Gián nghị đại phu tri tam quân sư, ông đã viết: "Chí những muốn, việc cố nhân đã muốn: để tâm dân chúng, mình lo trước điều thiên hạ phải lo".

Năm 1437, khi vua Lê Thái Tông cử ông định ra lễ nhạc, ông cũng nói cho vua biết những điều mà vua phải làm trước hết là chăn nuôi nhân dân: "-Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu. Đó tức là giữ được cái gốc của nhạc."

Do luôn luôn "lo trước điều thiên hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên hạ", Nguyễn Trãi lúc nào cũng sống một cuộc đời giản dị, cần kiệm liêm chính. Nhà của ông ở Đông Kinh (Thăng Long) chỉ là một túp nhà tranh (góc thành Nam lều một gian). Khi ông cai quản công việc quân dân ở hải đảo Đông Bắc, nhà của ông ở Côn Sơn "bốn mặt trống trải, xác xơ chỉ có sách là giàu thôi" (thơ Nguyễn Mộng Tuân, bạn Nguyễn Trãi).

Bài Bình Ngô đại cáo của ông là một "thiên cổ hùng văn". Đó là một thiên anh hùng ca bất hủ của dân tộc. Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi là những thư từ do ông viết trong việc giao thiệp với quân Minh. Những thư này là những tài liệu cụ thể chứng minh đường lối ngoại giao vào địch vận hết sức khéo léo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi làm cho quân Lam Sơn không mất xương máu mà hạ được rất nhiều thành.

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là tác phẩm xưa nhất bằng Việt ngữ mà chúng ta còn giữ được. Tác phẩm này rất quan trọng cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam và lịch sử ngôn ngữ Việt Nam .

Năm 1442, cả gia đình ông bị hãm hại (tru di tam tộc) khiến cho người đương thời vô cùng thương tiếc.

Năm 1464, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng quan tước và tìm hỏi con cháu còn sót lại.

Nguyễn Trãi là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam . ông là anh hùng dân tộc, là nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn hóa lớn của nước ta. Tâm hồn và sự nghiệp của ông mãi mãi là vì sao sáng như Lê Thánh Tông truy tặng "Ưc Trai tâm thượng quang Khuê Tảo". Giáo sư sử học Văn Tâm

* Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc



Nhắn tin cho tác giả
Đoàn Thị Thuỷ @ 08:38 06/07/2010
Số lượt xem: 2325
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến