Hướng dẫn sử sụng vở bài tập Ngữ văn THCS

(Bài giảng chưa được thẩm định)
Nguồn: Giáo sư- NSUT Nguyễn Khắc Phi
Người gửi: Đoàn Thị Thuỷ (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:50' 28-09-2009
Dung lượng: 559.5 KB
Số lượt tải: 95
Số lượt thích: 0 người

1
Thái Bình, ngày 17 tháng 8 năm 2009
hướng dẫn sử dụng
VỞ BÀI TẬP NGỮ VĂN THCS
Nhà xuất bản giáo dục VIệT NAM
Công ty cp. đầu tư và phát triển giáo dục hà nội
2
Người hướng dẫn
GS. Ngưt. Nguyễn khắc phi
3

A. Nhìn lại chương trình và sách giáo khoa ngữ văn THCS
4
I - Vài điều ghi nhận về việc đánh giá CT và SGK Ngữ Văn THCS
1. Qua các đợt đánh giá:
- Của Liên hiệp các Hội khoa học và Kĩ thuật, Hội Cựu giáo chức, Hội Khuyến học.
- Do Bộ GD & ĐT phát động từ giữa năm 2008
- Qua kênh của NXBGDVN
5
2. Qua báo chí:
- Những bài viết của các giáo viên, bạn đọc.
- Những bài viết của các chủ biên, tác giả SGK (có tác dụng uốn nắn những ngộ nhận song mang tính chất đối phó từng vụ việc, chưưa tạo đưược thế chủ động và sự đồng thuận rộng rãi trong toàn xã hội).
6

II - Một vài nhận xét về CT & SGK Ngữ văn THCS từ góc độ của ngưười thẩm định chưương trình và chủ trì biên soạn SGK Ngữ Văn THCS
7
1. Những ưu điểm của CT & SGK
- Của cả bộ Chương trình, SGK.
- Của Chương trình Ngữ văn:
+ Những điểm kế thừa Chương trình CCGD:
Học tác phẩm là chủ yếu
Không theo trình tự văn học sử.
8
+ Những điểm mới:
Những điều chỉnh khi kế thừa (phân tán phần VH Trung đại ở HKI lớp 9, bớt những tác phẩm ít giá trị nghệ thuật,.)
Có giảm tải thực sự (dẫn chứng)
Phương châm tích hợp (từ 3 cuốn sách chỉ còn 1, mối liên hệ giữa 3 phân môn)
Gắn hơn với thục tiễn đời sống (cách chọn tác phẩm, chương trình địa phương, văn học nhật dụng, văn bản hành chính,.)
Lấy kiểu văn bản làm trục chính để xây dựng chương trình, từ đó chú ý hơn đến thi pháp thể loại
Phát huy tính tích cực của học sinh (Phương pháp trình bày kiến thức mới ở TV, TLV; hệ thống câu hỏi đọc - hiểu, các đề mở, câu hỏi trắc nghiệm)
9
2. Những nhược điểm của CT&SGK
- Của cả bộ CT, SGK. Vấn đề "ngược" hay "xuôi" của tiến trình làm CT, SGK, Chuẩn kiến thức và kĩ năng.
- Của CT, SGK môn Ngữ văn
+ Còn có thể thực hiện phương châm tích hợp triệt để và nhuần nhuyễn hơn nữa
+ Một vài chỗ còn hơi nặng (do nhiều nguyên nhân khác nhau).
10
III - Thái độ đúng mực cần có
1. Có thể tiếp tục góp ý cho CT, SGK nhưng cần hướng vào những vấn đề cơ bản và nhằm mục tiêu rút kinh nghiệm để xây dựng chương trình mới vào khoảng 2015.
2. Cần tạo được sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội bằng cách trình bày quan điểm chính diện cũng như phê phán những ý kiến sai, những ngộ nhận về CT, SGK Ngữ văn.
3. Tất cả các giáo viên đều có thể góp phần tích cực vào những việc làm trên.
11

B . Về bộ vở bài tập ngữ văn THCS
12
I - Vài điểm vê quan niệm, nhận thức
1. Phân biệt hiện tượng "loạn sách tham khảo" và vấn đề đa dạng hóa tư liệu bổ trợ và sách tham khảo.
2. Tác dụng của việc đa dạng hóa tư liệu đối với việc cải tiến phương pháp dạy - học nói chung, đối với môn Ngữ văn nói riêng.
3. Quan hệ giữa đa dạng hóa tư liệu dạy-học đối với việc rèn luyện kĩ năng và kiểm tra, đánh giá.
13
II - Giới thiệu qua về đội ngũ tác giả
Sự khác biệt giữa đội ngũ tác giả Vở Bài tập này với tất cả tập thể tác giả của các Bộ Vở bài tập và Sách Bài tập khác cho phép có thể phát huy tối đa những ưu điểm của CT và SGK mới.
14
III - sự cần thiết của bộ Vở bài tập. đặc điểm của bộ VBT mới
1. Những ưu điểm và nhược điểm của bộ Sách Bài tập gắn liền với bộ SGK và Bộ SGV Ngữ văn đã xuất bản.
2. Những ưu điểm và nhược điểm của Bộ Vở Bài tập gắn liền với bộ SGK và Bộ SGV Ngữ văn đã xuất bản.
15
3. Những đặc điểm của bộ Vở bài tập mới:
3a. Đối tượng: Cho tất cả các đối tượng HS song lấy đối tượng trung bình làm mục tiêu chính để đáp ứng.
3b. Do đó, phương hướng chính là làm cho đa số HS, thông qua việc làm các bài tập tiêu biểu và điển hình trong SGK, nắm vững được kiến thức chủ yếu và rèn được những kĩ năng cơ bản theo yêu cầu của mỗi bài học.
16
Các câu hỏi và bài tập (từ đây gọi chung là Bài tập) trong SGK nói chung là tốt , song không phải HS nào cũng có thể giải được, đặc biệt là những HS trung bình non và yếu kém. Bởi vậy, nỗ lực chủ yếu của tác giả là nêu lên những gợi ý cần thiết và vừa đủ, tức không phải gợi ý chung chung hoặc ngược lại là "cầm tay chỉ việc". Mức độ gợi ý phụ thuộc vào mức độ dễ khó của Bài tập.

Trong các bài tập ở SGK, những bài dễ nói chung không được đưa vào Vở Bài tập này. Nhóm tác giả đã thống nhất dành 40% số lượng bài tập cho những đề mới. Có thể thấy nhóm tác giả đã quán triệt quy định đó qua bảng thông kê sau:
17
1275 / 2127
= 59,95%
18
3c. Với những đề cũ
- Có thể dùng y nguyên.
- Có thể vi chỉnh hoặc chỉnh lí theo hướng chia tách thành những câu nhỏ hay hợp nhất một số câu lại ở những chỗ cần thiết.
- Tuyệt đối tránh dùng những đề còn có tranh cãi, song lại ưu tiên những đề theo hướng mở đã có trong SGK.
- Tận dụng một cách hợp lí kiến thức cung cấp trong SGV song tránh hiện tượng "bật tường", đồng thời ở những chỗ thật cần thiết, lại bổ sung tư liệu mới (như trường hợp bài Qua đèo ngang) để HS có thể làm tốt hơn các bài tập.
19
3d. So với bộ Vở Bài tập đã xuất bản, bộ Vở này có những cải tiến sau:
- Đa dạng hóa trong phạm vi có thể số lượng 40% đề bài mới (không chỉ nhận diện, chú ý thực hành,.)
- Lược bớt đề bài tập ở những phần có chút ít quá tải trong SGK ( như một số bài ôn tập, tổng kết)
- Buộc HS dù muốn hay không cũng phải đi từ văn bản, bám văn bản ( đặc biệt là phần thường bị coi là khó như Thơ Trung đại)
- Giúp HS đi từ những vấn đề cụ thể đến khái quát trừu tượng
20
- Đưa những ngữ liệu mới, thú vị để kích thích tinh thần học tập, đồng thời thử nghiệm hình thức bài tập giúp HS làm việc theo nhóm (team work) và hình thức bài tập mà ngữ liệu do chính HS đưa ra (theo định hướng lấy HS làm trung tâm - learner-based teaching) như Bài tập 6 (Câu trần thuật), Bài tập 2 (Lựa chọn trật tự từ trong câu) ở lớp 8.
- Dùng hình thức trắc nghiệm như một kiểu gợi ý (phần Văn học Dân gian ở lớp 6 và lớp 7, phần TLV ở lớp 9) và có những yêu cầu khác kèm theo yêu cầu trắc nghiệm.
- ở một vài chỗ, thử nghiệm hình thức trò chơi sinh động (như Bài tập 5: Từ tượng hình, Từ tượng thanh).
- Chú ý bổ sung loại bài tập buộc HS phải bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của mình sau khi học tác phẩm như một hình thức thực hiện giao tiếp giữa học sinh với tác giả và tác phẩm,..
21

C- Những điểm cần lưu ý khi sử dụng Vở Bài tập
22
I - Cần phối hợp bộ vở này với tất cả những Bộ Vở bài tập, Sách Bài tập khác tùy theo tình hình tư liệu hiện có ở lớp mình phụ trách.
II - Điểm mạnh của việc sử dụng Vở Bài tập là vô hình trung buộc tất cả phải làm việc (thường các câu hỏi miệng chỉ tạo điều kiện cho một vài HS hoạt động trực tiếp) và tất cả phải trình bày kết quả bằng văn bản.
Từ lời nói đến câu văn, bài văn là cả một quá trình,. Qua đây, có thể rèn cho HS tinh thần trách nhiệm, tính cẩn trọng trong viết lách.
23
III- Mỗi HS cần phải tự làm bài (hoặc chuẩn bị sẵn, hoặc làm ngay tại lớp, hoặc làm sau) theo sự chỉ đạo của GV, song nhất thiết phải dành thì giờ trao đổi và sau trao đổi, GV cần có kết luận đúng, sai dứt khoát để HS sửa vào Vở Bài tập của mình. GV cần kiểm tra sự sửa chữa này; nếu không có điều kiện có thể giao cho HS trong các nhóm học tập kiểm tra lẫn nhau. Cần động viên HS lưu giữ Vở Bài tập này như những kỉ niệm tuổi học đường.
24
IV. Dĩ nhiên, điều kiện lí tưởng là mỗi học sinh có được một Bộ vở. Song nếu không có được điều kiện ấy, rất mong sự vận dụng sáng tạo của GV theo phương châm giúp đõ, cộng tác lẫn nhau trong việc thực hiện các bài tập. Đồng thời, phát huy tối đa tinh thần vượt khó của các em không có điều kiện mua Vở bài tập (như chép những đề bài tập mới, khó hoặc hay để cùng làm).
25
Trân trọng
cảm ơn
No_avatar

TROI OI YOI CAN GIAI NHUNG BAI TAP KHO TRONG VO BT NGU VAN 6 TAP 2 CO MA HUHUKhóc

 

 
 
 
Gửi ý kiến
print