Gốc > Văn học Việt Nam > Một số tác gia khác >

NGUYỄN DUY lấp lánh trang đời mỗi dày mỗi kịch

 

Giá trị thơ Nguyễn Duy giữa văn bản và trình diễn có một khoảng cách nhất định. Lối dùng chữ lắt léo và cá tính của Nguyễn Duy dễ làm sung sướng phát điên phát rồ cho những ai không đủ kiên trì đối diện với thăm thẳm tâm trạng con người. Thơ Nguyễn Duy không có văn bản ngoài văn bản. Mỗi câu thơ hoàn thành sứ mệnh kiêu hãnh ngay dấu chấm, làm cho sức liên tưởng trong thơ Nguyễn Duy không mấy sâu rộng. Những tiết điệu uyển chuyển “ngấp nga ngấp ngoảng kêu ma, hóa ra ta gặp bóng ta trên tường” hay “phàm trần bớt chút lung linh, các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần” giống như một thứ quyền thuật . Cũng xuống tấn, cũng vung tay, cũng tung cẳng, cũng ưỡn ngực, cũng lắc mông…thật đẹp mắt khi tham gia màn đồng diễn ngoạn mục. Còn võ thuật đích thực cuộc song đấu giữa người viết và người đọc, có khi 10 năm thấy cái nhón chân còn kinh hoàng cú đá vô ảnh vô chiêu của bậc đại tôn sư. Đọc thơ Nguyễn Duy không khó khăn gì để hình dung, Nguyễn Duy cầm một cây tre quậy vào cái ao nhà mình, kẻ nông cạn thảng thốt sắp có trận thương hải biến vi tang điền, kẻ bình thường náo nức gió to lồng lộng quê hương ta, còn kẻ tinh tế bồi hồi mùi bùn đất hăng hăng

  

 

  

NGUYỄN DUY LẤP LÁNH TRANG ĐỜI MỖI DÀY MỖI KỊCH

  

 

  

LÊ THIẾU NHƠN

  

 

  

    Trong những nhà thơ Việt Nam đương đại, có lẽ Nguyễn Duy là tên tuổi được phổ cập tương đối rộng rãi vào quần chúng. Nói về sáng tạo thì luôn tồn tại nghịch lý. Ở lĩnh vực công nghệ, người làm ra cái xe đạp và người làm ra cái xe hơi không bao giờ có sự nhầm lẫn. Thế nhưng, ở lĩnh vực nghệ thuật, những bài thơ đẳng cấp xe đạp vẫn lắm lúc tạo ra nhà thơ đẳng cấp xe hơi. Sự may mắn ấy như lộc trời, cho ai thì người ấy được, chẳng thể so bì hay đố kỵ. Sau nhiều tập đơn lẻ, thơ Nguyễn Duy được tuyển chọn lại thành một cuốn hơn 400 trang, do NXB Hội Nhà Văn và công ty Nhã Nam ấn hành, giúp độc giả khái quát được ba yếu tố làm nên danh tiếng Nguyễn Duy: Thứ nhất, vần điệu nhịp nhàng, dễ đọc dễ thuộc. Thứ hai, tác giả có khả năng trình diễn để tiếp cận công chúng. Thứ ba, năng lực thẩm mỹ của người viết có nét tương đồng với không khí xã hội nên được hiệu ứng đám đông đẩy lên cao!

  

    Sự nghiệp thi ca của Nguyễn Duy khởi động từ cuộc thi thơ năm 1972-1973 do báo Văn Nghệ tổ chức. Giải nhất đồng hạng cùng Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm và Nguyễn Đức Mậu, bốn bài thơ của Nguyễn Duy là “Bầu trời vuông”, “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”, “Giọt nước mắt và nụ cười” được xem như một phát hiện mới lạ ở giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Có vẻ như xác định được mỏ vàng lộ thiên ở bản thân, Nguyễn Duy tăng tốc với kiểu thơ thăng hoa khái niệm “là”. Nào “ở đây là tấm lòng ta, sông dài núi rộng cũng là ở đây”, nào “trong veo là nắng với trời”, nào “bao nhiêu là giọt mưa rào”, nào “bao nhiêu là bóng siêu nhân”, nào “cũ xưa đến vậy là cùng”… Hình như Nguyễn Duy muốn chứng minh thi ca không có chữ “là” sẽ không đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, vì vậy bạn đọc tinh tường dễ dàng nhận ra nhiều câu thơ nửa như tấu nói nửa như hò vè.

  

    Người rất yêu Nguyễn Duy có thể bào chữa thơ ông đã đạt đến mức giản dị, còn người ít yêu Nguyễn Duy có thể đánh giá thơ ông nhiều chỗ dễ dãi. Chẳng sao, mỗi lần Nguyễn Duy đọc lên vẫn có khối kẻ hào hứng đấy. Phong cách thơ Nguyễn Duy không dành cho những ai tìm đến văn chương để một mình suy tư, mà cực kỳ phù hợp với không gian xúm xít lim dim đôi mắt, dong dỏng đôi tai. Ngay cả những câu thơ riêng tư nhất viết về vợ thì giọng điệu Nguyễn Duy vẫn như đang có MC của Đài truyền hình VN cầm micro dí trước mặt: “Móc họng mửa ra cầu vồng bảy sắc/ Vợ dìu ta tầng bậc thang mòn”! Không thể nói khác hơn, Nguyễn Duy hoàn toàn mang dáng dấp một danh ca của làng thơ nước nhà. Để tận dung triệt để ưu điểm này, ngay khi đánh vật với món ngôn ngữ nôm na điệu nghệ, Nguyễn Duy đã nghĩ đến quyền lợi của giới thưởng ngoạn. Ví dụ, bài thơ “Cơm bụi ca” có thể xem như dấu son cho thể loại lục bát của Nguyễn Duy, lẽ ra phải kết thúc với hai câu gợi mở “xin nghe anh nói cực nghiêm/ linh hồn cát bụi ở miền trong veo”, thì ông sợ những người mộ điệu mãi ngẫm ngợi mà quên…tán thưởng, nên viết thêm hai câu “rủ nhau cơm bụi giá bèo/ yêu nhau theo mốt nhà nghèo… vô tư” để ai cũng kịp nhận ra tiết mục diễn ngâm đã chấm dứt. Giữa thời buổi tri thức luôn sốt ruột nhiều thứ, hiếm hoi lắm mới có một người cầm bút biết đoán định nhu cầu khán giả như Nguyễn Duy!

  

    Từ khi quyết tâm bỏ tên khai sinh Nguyễn Duy Nhuệ để lấy bút danh Nguyễn Duy cho đến khi tuyên bố ly thân với nàng thơ, nhà thơ Nguyễn Duy đã có một phần tư thế kỷ viết miệt mài. Nguyễn Duy viết nhiều đến mức ông đưa dăm ba câu ca dao vào thơ như “ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, miệng nhau cơm búng lưỡi lừa cá xương” hay “không trầu mà cũng chẳng cau, làm sao cho thắm môi nhau thì làm” mà nhiều người ngỡ ca dao ăn theo ông chứ không phải ông ăn theo ca dao! Nguyễn Duy viết nhiều đến mức ông chế biến ra không ít bài thơ hời hợt mà chính ông cũng không đủ thời gian để nhẫn nại chỉnh sửa hoặc nhẹ nhàng tiêu hủy, như bài “Cô bé nhà bên” chỉ từa tựa tạp văn có ngắt xuống dòng, như bài “Xiếc trên dây” nếu không có câu thơ của Bạch Cư Dị làm đề từ thì chẳng khác gì đoạn văn tường thuật show diễn tạp kỹ đang cần bán vé. Những ai khó tính nhiều khi đọc bài thơ ký tên Nguyễn Duy đâm ra giận… nhà in, vì tưởng nhân viên kỹ thuật tắc trách đã dán nhầm tác phẩm trên báo tường nào vào vị trí lẽ ra phải dành trang trọng cho thơ Nguyễn Duy, chẳng hạn bài “Trên đồng bông Phước Sơn” hay bài “Gửi về Lam Sơn” viết dằng dặc mong nhớ mà không có một câu thơ nào! Nói cách khác, trong nỗi đam mê chinh phục, Nguyễn Duy quên mất một phẩm chất cần thiết cho tầm vóc nhà thơ là phải biết hoài nghi những tràng vỗ tay phấn khích!

  

    Thế mạnh của Nguyễn Duy nằm ở sự nhận diện nhanh nhạy và khái quát sắc sảo. Với “Lạng Sơn, 1989”, ông nảy một ý thơ lý thú: “AQ túm tóc Chí Phèo, để hai bác lính nhà nghèo đều thua”. Vì vậy, đọc thơ Nguyễn Duy không ai dám nghi ngờ năng lực một nhà báo chuyên nghiệp ở Nguyễn Duy. Nhiều bài thơ dẻo dai nghe Nguyễn Duy lĩnh xướng rất hay, nhưng thực chất được hình thành theo công thức: nhiều khổ báo cộng một khổ thơ. Bài “Thơ tặng người ăn mày” là một câu chuyện có vần được cứu vớt bởi một đoạn thơ “Bây giờ đồng trắng nước trôi/ Bàn tay chìa vào mặt tôi gấp gáp/ Hay là chính mẹ tôi từ trong đất/ Dắt đất lên để thử lòng tôi chăng?”. Bài “Pháo Tết” lắp ghép nhiều góc ảnh chụp đời thường có một đoạn thơ thổn thức “Cả thành phố như khói/ Khét lẹt mờ mịt mây/ Có một cô điếm ế/ Đón giao thừa gốc cây”. Trong nhiều trường hợp, rất khó phân biệt Nguyễn Duy viết báo bằng thơ, hay viết thơ bằng… báo. Lặn lội “Ghi chép ở chùa Hương”, Nguyễn Duy có bài thơ ngắn “Biết là chả có Phật đâu/ Vẫn lòng thanh bạch lại sau lễ chùa/ Người về khăn áo gió đưa/ Phất phơ hồn vía ngày xưa vẫn còn…” và một bài báo ngắn “Dưới trần bến Đục bến Trong/ Trên trời Hương Tích, Hinh Bồng trắng mây/ Cô em cầu cạnh gì đây? Cầu cho giá gạo hằng ngày đừng lên”. Chính nhờ phô diễn ngón nghề báo – thơ lẫn lộn, Nguyễn Duy rất ít câu thơ cấp tỉnh, chỉ có những câu thơ cấp xã chen dọc chen ngang với những câu thơ cấp trung ương! Hơn nữa, Nguyễn Duy có thói quen dùng văn phong hài kịch, nên nhiều câu thơ dở được che đi, mà nhiều câu thơ hay như “ta cài cúc áo cho em/ run tay gói lại một miền cỏ lau” cũng bị che đi!

  

    Suốt hành trình thơ, Nguyễn Duy luôn chứng minh bản lĩnh một thi sĩ lợi khẩu. Lẽ thường, khi chạm vào trắc ẩn nhân tình thế thái, phải nhìn thật gần mới thấy trái tim nhà thơ run rẩy. Còn với Nguyễn Duy, từ xa đã nghe réo rắt những tiếng kêu cảm thán tội nghiệp quá, thê thảm thay. Như ba vạt đồi như lên khỏi vùng thơ xôn xao đàm thoại của Nguyễn Duy là ba bài thơ dài “Đánh thức tiềm lực”, “Nhìn từ xa… Tổ quốc” và “Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ”. Bài thơ “Đánh thức tiềm lực” nhờ sự bảo đảm “Tiễn đưa anh Sáu Dân đi làm kinh tế” nên lời lẽ mạnh mẽ và dõng dạc: “Cần lưu ý/ Có cái miệng làm chức năng cái bẫy/ Sau nụ cười là lởm chởm răng cưa/ Có cái môi mỏng hơn lá mía/ Hôn má bên này bật máu má bên kia/ Có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa/ Khái niệm bắn ra không biết lối thu về”. Bài thơ “Nhìn từ xa… Tổ quốc” có lẽ do không biết ghi tặng ai nên khí độ mềm mỏng hơn một chút: “Xứ sở thật thà/ Sao thật lắm thứ điếm/ Điếm biệt thự - điếm chợ- điếm vườn/ Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng/ Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn/ Vật giá tăng/ Vì hạ giá linh hồn”. Vừa hé lộ tinh thần bảo vệ môi trường vừa khôn khéo phê phán những điều càng xa dạ dày càng tốt, Nguyễn Duy ứng biến mau lẹ chuyển mạch cảm xúc sang “Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ” một cách an toàn: “Có người thách ta đánh nhau/ Ta bảo ta yếu rồi ta lại không có võ/ Có đứa thách ta chửi nhau/ Ta bảo ta vừa bị mất trộm cả sọt từ ngữ/ Có đứa thách ta nhổ vào mặt nó/ Ta bảo hết đờm rồi/ Ta chúi mũi hà hơi lên trang bản thảo/ Hô hấp nhân tạo những con chữ khó thở”. Thật ra, “Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ” có một cái tứ đáng đồng tiền bát gạo, nhưng dường như lộc thơ trời cho Nguyễn Duy đã cạn, chỉ còn câu nọ giằng co câu kia trong sự lan man vô định!

  

    Giá trị thơ Nguyễn Duy giữa văn bản và trình diễn có một khoảng cách nhất định. Lối dùng chữ lắt léo và cá tính của Nguyễn Duy dễ làm sung sướng phát điên phát rồ cho những ai không đủ kiên trì đối diện với thăm thẳm tâm trạng con người. Thơ Nguyễn Duy không có văn bản ngoài văn bản. Mỗi câu thơ hoàn thành sứ mệnh kiêu hãnh ngay dấu chấm, làm cho sức liên tưởng trong thơ Nguyễn Duy không mấy sâu rộng. Những tiết điệu uyển chuyển “ngấp nga ngấp ngoảng kêu ma, hóa ra ta gặp bóng ta trên tường” hay “phàm trần bớt chút lung linh, các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần” giống như một thứ quyền thuật . Cũng xuống tấn, cũng vung tay, cũng tung cẳng, cũng ưỡn ngực, cũng lắc mông…thật đẹp mắt khi tham gia màn đồng diễn ngoạn mục. Còn võ thuật đích thực cuộc song đấu giữa người viết và người đọc, có khi 10 năm thấy cái nhón chân còn kinh hoàng cú đá vô ảnh vô chiêu của bậc đại tôn sư. Đọc thơ Nguyễn Duy không khó khăn gì để hình dung, Nguyễn Duy cầm một cây tre quậy vào cái ao nhà mình, kẻ nông cạn thảng thốt sắp có trận thương hải biến vi tang điền, kẻ bình thường náo nức gió to lồng lộng quê hương ta, còn kẻ tinh tế bồi hồi mùi bùn đất hăng hăng. Bằng cách ấy, Nguyễn Duy tạo được miền thơ riêng. Và ít nhất, tổng kết đời thơ, Nguyễn Duy vẫn còn chút băn khoăn gửi thế hệ sau: “Tiềm lực còn ngủ yên, trong quả tim mắc bệnh đập cầm chừng. Tiềm lực còn ngủ yên, trong bộ óc mang khối u tự mãn. Tiềm lực còn ngủ yên, trong con mắt lờ đờ đục thủy tinh thể. Tiềm lực còn ngủ yên, trong lỗ tai u chai màng nhỉ. Tiềm lực còn ngủ yên, trong ống mũi khò khè không nhận biết mùi thơm. Tiềm lực còn ngủ yên, trong lớp da biếng lười cảm giác”, mà khi nào độc giả cảm thấy đây là những câu thơ vớ vẩn thì đất nước Việt Nam đã sánh ngang với những cường quốc khắp năm châu rồi!

Lê Thiếu Nhơn



Nhắn tin cho tác giả
Phạm Thị Tiểu Thanh @ 22:55 25/10/2010
Số lượt xem: 3307
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến